Một gia đình tại Hải Phòng sử dụng đất hơn 20 năm, nhưng khi Nhà nước thu hồi, chỉ được bồi thường theo giá đất nông nghiệp. Tòa án xác định việc áp dụng phương án bồi thường là có căn cứ.

Theo trình bày của bà T., mẹ bà nhận chuyển nhượng tổng cộng 1.041m² đất tại Hải Phòng trong giai đoạn 1993-2003. Sau đó, gia đình xây nhà cấp 4 và sinh sống ổn định trên khu đất.

Năm 2015, mẹ bà T. qua đời, không để lại di chúc. Các thành viên trong gia đình tiếp tục quản lý, sử dụng đất. Đến năm 2019, vợ chồng bà T. xây thêm một căn nhà cấp 4 có diện tích khoảng 240m², trị giá hơn 2 tỷ đồng.

Khi địa phương triển khai dự án xây dựng công viên nghĩa trang, toàn bộ thửa đất hơn 1.000m² của gia đình bị thu hồi. Tháng 8/2025, Chủ tịch UBND xã ban hành quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ. Một tháng sau, quyết định thu hồi đất được ban hành.

Theo phương án, trong tổng diện tích 1.041m², gia đình chỉ được bồi thường 804m². Phần còn lại 237m² được xác định là đất do UBND xã quản lý, không thuộc diện được bồi thường về đất.

Không đồng tình, bà T. khởi kiện, yêu cầu hủy các quyết định hành chính liên quan. Bà cho rằng gia đình đã sử dụng toàn bộ diện tích đất trong nhiều năm, nên cần được xem xét quyền lợi tương ứng.

Bà đề nghị áp dụng đơn giá 472.000 đồng/m² thay vì mức 72.000 đồng/m² theo phương án được phê duyệt. Đồng thời, bà yêu cầu xem xét các khoản hỗ trợ ổn định đời sống, bồi thường cây cối, hoa màu, công trình xây dựng và chi phí di chuyển chỗ ở.

Ở chiều ngược lại, đại diện chính quyền địa phương cho biết hồ sơ địa chính năm 1985 và bản đồ giải thửa thể hiện các thửa đất có nguồn gốc, chủ thể sử dụng khác nhau. Sau quá trình dồn điền đổi thửa, mẹ bà T. được giao 804m² theo quyết định năm 1994. Diện tích 237m² còn lại được xác định là đất do UBND xã quản lý.

Đối với công trình xây dựng trên phần đất này, chính quyền cho rằng công trình không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định, nhưng gia đình được xem xét hỗ trợ theo chính sách hiện hành.

Tòa án xác định căn cứ bồi thường từ hồ sơ đất đai

Xét xử sơ thẩm vào tháng 6/2026, TAND khu vực 1 – Hải Phòng bác yêu cầu khởi kiện của bà T. Không đồng ý với phán quyết, bà tiếp tục kháng cáo.

Tại phiên phúc thẩm, TAND TP Hải Phòng xem xét hồ sơ địa chính và các tài liệu quản lý đất đai liên quan. Tòa xác định 804m² là diện tích mẹ bà T. được giao theo quyết định năm 1994, trong khi 237m² còn lại thuộc phần đất do UBND xã quản lý.

Bà T. không cung cấp được tài liệu chứng minh diện tích 237m² đã được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng hoặc cho phép sử dụng hợp pháp. Vì vậy, việc không đưa phần diện tích này vào diện được bồi thường về đất được xác định là có căn cứ.

Về đơn giá, Tòa nhận định diện tích bị thu hồi thuộc loại đất nông nghiệp, không phải đất ở. Mức 72.000 đồng/m² được áp dụng theo quyết định phê duyệt giá đất cụ thể phục vụ dự án. Do đó, yêu cầu bồi thường theo mức giá đất ở 472.000 đồng/m² của bà T. không được chấp nhận.

Đối với tài sản gắn liền với đất, Tòa cho rằng công trình xây dựng trên phần đất do UBND xã quản lý không đủ điều kiện được bồi thường toàn bộ, nhưng gia đình đã được xem xét hỗ trợ theo chính sách. Việc không bồi thường cây lâu năm trồng trên diện tích được giao để trồng cây hằng năm cũng được xác định là phù hợp quy định.

Ngoài ra, gia đình bà T. không đủ điều kiện hưởng hỗ trợ ổn định đời sống. Các khoản hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm và ổn định sản xuất, kinh doanh chỉ được tính trên diện tích 181,4m² đủ điều kiện. Đối với phương án tái định cư, Tòa xác định việc bố trí một lô đất có thu tiền sử dụng đất cho gia đình là phù hợp.

Từ các căn cứ trên, TAND TP Hải Phòng kết luận bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà T. là có cơ sở. Tòa không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trần Yên (tổng hợp)