Muốn người dân duy trì thói quen tập luyện thể thao, bên cạnh lời vận động cần có quỹ đất, sân chơi và không gian vận động thuận tiện ngay tại nơi sinh sống.
- Người Việt thích ăn nội tạng nhiều người Mỹ lại e ngại?
- Tài xế Quảng Ninh bị phạt vì kéo lê khung sắt, tấm tôn trên phố
- Cảm lạnh: Ăn cháo, uống nước tía tô có thực sự tốt?
Ngày 28/3, tại lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành thể dục thể thao Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị phát động phong trào mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên. Cùng với đó là yêu cầu quy hoạch đất, tạo không gian vận động và tận dụng hiệu quả cơ sở vật chất hiện có.
Tại buổi làm việc ngày 2/10 với Đảng ủy Chính phủ và Đảng ủy Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về phát triển thể dục thể thao trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục yêu cầu bố trí quỹ đất, không gian vận động trong quy hoạch khu công nghiệp, đô thị và khu dân cư mới. Nội dung này được nêu tại Thông báo 194-TB/VPTW.
Những chỉ đạo liên tiếp cho thấy phát triển thể thao không thể chỉ dừng ở việc phát động phong trào. Muốn người dân rèn luyện thường xuyên, cần tạo điều kiện để họ dễ dàng tiếp cận sân chơi, đường đi bộ và các điểm tập luyện công cộng.
Ngày 10/10, phong trào toàn dân tập luyện thể thao được phát động tại Hà Nội, kết nối với các tỉnh, thành phố trên cả nước. Để phong trào lan tỏa bền vững, điều quan trọng là người dân có thể bắt đầu vận động ngay trong đời sống hằng ngày.
Người thích đi bộ cần tuyến đường an toàn; học sinh muốn chơi bóng rổ cần sân tập; người cao tuổi cần không gian tập dưỡng sinh thuận tiện. Những nhu cầu thiết thực này khó được đáp ứng nếu khu dân cư thiếu diện tích công cộng hoặc địa điểm tập luyện nằm quá xa nơi ở.
Khả năng vận động còn phụ thuộc vào công việc, thu nhập và thời gian của mỗi người. Công nhân tan ca muộn sẽ khó duy trì tập luyện nếu sân thể thao xa nhà hoặc chỉ mở cửa trong giờ hành chính. Vì vậy, không gian thể thao cần được tính toán ngay từ khi quy hoạch nhà ở, trường học, giao thông và các dịch vụ thiết yếu.
Khi khu dân cư đã hình thành, dân số tăng cao, việc bổ sung quỹ đất thể thao sẽ khó khăn và tốn kém hơn. Đặc biệt, tại các đô thị phát triển theo chiều cao, sân chơi và không gian sinh hoạt chung cần được bố trí tương xứng với số lượng cư dân.
Quỹ đất thể thao và bài toán phát triển đô thị
Theo thống kê đất đai năm 2025 được phê duyệt tại Quyết định 2499/QĐ-BNNMT, cả nước có 21.975ha đất xây dựng cơ sở thể dục thể thao. Hà Nội có 1.684ha, TPHCM có 1.433ha, Đà Nẵng có 1.034ha và Hải Phòng có 1.319ha.
Các số liệu tại TPHCM, Đà Nẵng và Hải Phòng được thống kê theo địa giới sau sắp xếp. Do đó, diện tích đất của toàn thành phố chưa phản ánh đầy đủ khả năng tiếp cận sân bãi tại từng phường, xã và khu dân cư. Với dân số khoảng 8,86 triệu người, Hà Nội có diện tích đất thể thao bình quân xấp xỉ 1,9m²/người. TPHCM, với dân số trung bình năm 2025 khoảng 13,8 triệu người, đạt khoảng 1,04m²/người.
Trong khi đó, Quy hoạch cơ sở vật chất kỹ thuật thể dục thể thao quốc gia năm 2013 từng đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 3,5-4m² đất dành cho hoạt động thể thao/người. Khoảng cách giữa mục tiêu này và số liệu hiện trạng cho thấy nhu cầu mở rộng không gian vận động vẫn rất đáng quan tâm.
Chiến lược phát triển thể dục thể thao đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đặt mục tiêu 100% cấp xã có thiết chế thể thao hoặc văn hóa – thể thao đạt tiêu chí; hầu hết khu dân cư có thiết chế hoặc điểm tập công cộng.
Tuy nhiên, diện tích đất bình quân chưa phản ánh đầy đủ chất lượng và khả năng sử dụng thực tế. Tại nhiều khu dân cư đông đúc ở Hà Nội, đặc biệt là các khu tập trung nhà cao tầng, không gian sinh hoạt chung đang chịu sức ép lớn. Sân chung cư phải chia sẻ cho việc đỗ xe, vui chơi của trẻ em và hoạt động thể thao.
Trẻ nhỏ có khi phải đạp xe, đá bóng hoặc chơi cầu lông ngay cạnh những ô tô đỗ kín sân. Khi một khoảng không gian phải đáp ứng quá nhiều nhu cầu, điều kiện vận động an toàn khó được bảo đảm.
Thực tế này cho thấy phát triển đô thị không thể chỉ chú trọng nhà ở, giao thông và công trình thương mại. Một nơi đáng sống còn cần những khoảng không gian để cư dân rèn luyện sức khỏe, thư giãn và kết nối cộng đồng.
Quy hoạch từ cấp tỉnh, thành phố đến xã, phường và từng khu dân cư cần tính đến nhu cầu vận động theo quy mô dân số, độ tuổi và đặc điểm sinh hoạt. Quỹ đất thể thao phải được xem là nguồn lực phục vụ nhiều thế hệ, thay vì diện tích có thể dễ dàng chuyển đổi cho những mục đích khác.
Bên cạnh đầu tư công, việc huy động doanh nghiệp tham gia xây dựng và vận hành công trình thể thao có thể bổ sung nguồn lực. Tuy nhiên, cần quy định rõ mức phí, trách nhiệm bảo trì, thời gian phục vụ và phần không gian dành cho cộng đồng. Phát triển dịch vụ không nên khiến người thu nhập thấp gặp khó khăn khi tiếp cận hoạt động thể thao.
Có đất và công trình mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để hình thành thói quen vận động, cần phát triển các câu lạc bộ, nhóm tập luyện cộng đồng và gắn kết thể thao học đường với gia đình, khu dân cư. Trẻ em được làm quen với môn thể thao yêu thích ở trường sẽ có thêm cơ hội duy trì tập luyện khi trở về nhà.
Không gian và dịch vụ thể thao cũng cần đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi, người khuyết tật và người lao động thu nhập thấp. Lối đi thuận tiện, thiết kế an toàn, thời gian hoạt động linh hoạt và chi phí hợp lý đều ảnh hưởng đến khả năng tham gia của người dân.
Theo Thông báo 194-TB/VPTW, nhiệm vụ nghiên cứu bộ chỉ số về thể lực, mức độ vận động và khả năng tiếp cận thể dục thể thao được đặt ra với thời hạn hoàn thành trong quý II/2027. Đây sẽ là cơ sở để đánh giá nhu cầu, xác định địa bàn còn thiếu điều kiện và điều chỉnh chính sách đầu tư.
Hiệu quả phong trào cần được đánh giá bằng những thay đổi cụ thể: người dân có tập luyện thường xuyên hơn không, sân chơi có được sử dụng hiệu quả không, trẻ em có thêm cơ hội vận động và người cao tuổi có nơi sinh hoạt phù hợp hay không.
Dành đất cho thể thao hôm nay là đầu tư cho sức khỏe, chất lượng sống và sự gắn kết cộng đồng trong tương lai. Khi mỗi người dân có nơi tập luyện thuận tiện, an toàn và phù hợp, lời kêu gọi xây dựng xã hội vận động mới có thể trở thành thói quen bền vững trong đời sống hằng ngày.
Trần Yên (tổng hợp)

